Enter your keyword

Put your ad code here

Mỹ Nhân Nga

By On tháng 8 09, 2016

Tổng tập truyện ngắn Vladimir Nabokov
Quyển I
Phát hành dự kiến: 15/8/2016

Nghề Dịch Có Nhục Có Vinh

By On tháng 3 19, 2016
Trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ Công An số 281 ra ngày 17/03/2016



Chào dịch giả Thiên Lương, ba năm trước anh được biết đến vì sự kiện phê bình bản dịch Lolita và việc đạo chú thích của dịch giả Dương Tường và sau đó anh đã bỏ gần hai năm ra dịch lại toàn bộ tác phẩm vĩ đại này của Nabokov, không biết hiện nay anh còn tham gia vào công việc dịch nữa không?

Tôi vẫn dịch các tác phẩm của Nabokov đấy chứ, đã dịch được vài chục truyện ngắn của ông ấy, và khá nhiều trong số chúng đã được đăng lên các tờ báo lớn của VN. Hầu hết các truyện ngắn tiếng Anh hay nhất của ông ấy, như “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Chị em nhà Vane”,… đã được tôi dịch và cho đăng báo. Nabokov là một trong số ít các nhà văn bậc thầy của nhân loại, thật đáng tiếc là tác phẩm của ông hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt.

Nhận xét chung của anh về tình hình văn học dịch ở VN trong 3 năm qua?

Sau đợt phê bình Lolita thì tôi cho là giới dịch giả bắt đầu phân hóa khá rõ rệt, thực ra sự đoàn kết giả tạo trước đây theo kiểu bảo vệ nồi cơm của nhau là rất có hại cho môi trường dịch thuật. Tuy nhiên, tôi cũng không ủng hộ việc những người viết lại tấn công lẫn nhau. Chúng ta nên tôn trọng sự thật và chỉ sự thật mà thôi, ai dịch sai quá nhiều thì vẫn nên bị lên án, không vì họ lớn tuổi hay họ là bạn bè mà ta phải cố sống cố chết bênh vực. Kiểu tư duy làng xã bao che lẫn nhau, ai ra sách thì cả đám kéo đến khen trả lễ như ăn cưới, chỉ kéo lùi mọi thứ, không riêng lĩnh vực dịch. Còn về chất lượng sách dịch thì nói chung cuốn nào mà được để ý đến thì chắc chắn là có vô số lỗi. Lâu lâu lại rộ lên các thảm họa dịch thuật mới chẳng qua cũng chỉ do chúng được (hay là bị) công ty làm sách bỏ tiền ra PR quá mạnh, nên chúng bị (hay được) mọi người chú ý đến mà thôi.

Anh nghĩ rằng độc giả VN may mắn hay không khi các tác phẩm văn chương có giá trị của nước ngoài được chuyển ngữ rất nhiều trong thời gian qua dù rằng chất lượng các bản dịch lại là vấn đề...?

Tôi nghĩ không may mắn mà cũng chẳng xui xẻo gì, nói tóm lại là không ảnh hưởng gì nhiều đến xã hội, vì văn chương bây giờ có được mấy ai đọc đâu? Dịch sai hay dịch đúng thì cũng vậy. Một bản dịch thảm họa chỉ gây hại khi nó bán được vài chục ngàn bản trở lên, chứ còn bán một vài ngàn bản, và đa phần trong đó cũng không được ai đọc, thì nói chúng tốt hay xấu đều sai cả. Nói chung các bản dịch văn chương ở VN, theo tôi, hầu hết là vô hại.

Theo anh thì để các bản dịch sai xuất hiện tràn lan trên kệ sách mỗi nhà như vừa qua, lỗi tại ai? Dịch giả? Biên tập? Nhà sách? Hay chính là độc giả cũng dễ dãi quá?

Thực ra tôi không đồng ý với quan điểm cho rằng hiện nay có quá nhiều bản dịch sai, vì khi nói thế thì ta mặc nhiên cho rằng ngày xưa có nhiều bản dịch đúng. Tuy nhiên, các bản dịch thời xưa còn tệ hơn bây giờ nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, làm sao ta có thể dịch đúng được với các từ điển giấy rất kém cỏi và bất tiện, thiếu hoàn toàn sự hỗ trợ của internet, của bạn bè nước ngoài, và thiếu cả trải nghiệm sống ở nước ngoài? Chẳng qua thời xưa rất ít người có khả năng đọc ngoại ngữ, lại càng ít người có được bản gốc trong tay, cho nên các dịch giả thời xưa muốn dịch sao cũng được, miễn xuôi tai. Nói như một nhà văn VN, là nhiều dịch giả “đọc không thông mà dịch rất thạo”. Tuy nhiên, xuôi tai và dễ đọc hoàn toàn không phải là các tiêu chí để đánh giá chất lượng bản dịch, đặc biệt là các kiệt tác. Tôi cho rằng tình hình dịch thuật hiện nay tuy có xấu nhưng cũng vẫn tốt hơn xưa. Nếu có xấu hơn thì là do độc giả giỏi hơn thôi. Ngày nay dịch giả chịu áp lực rất lớn, gần như họ phải làm việc trong một cái lồng kính trong suốt dưới ánh đèn cao áp vậy.

Anh nghĩ để thay đổi được hiện trạng trên, cần có những động thái gì từ xuất bản, từ biên tập và từ chính độc giả?

Dịch giả đóng vai trò quyết định và tối hậu trong chất lượng bản dịch. Chẳng ai biên tập được một bản dịch sai từ đầu đến cuối. Nhà sách thì thực ra phải lo lợi nhuận, nhập giấy vào, bán giấy ra. Đa số độc giả thì có chịu đọc và có đọc được bản gốc đâu mà biết bản dịch tốt hay tệ? Nói chung muốn có một nền dịch thuật tốt hơn thì phải có các dịch giả giỏi hơn, mà muốn có dịch giả giỏi hơn thì phải có tiền nhiều hơn. Người giỏi bao giờ cũng đổ vào các chỗ có thu nhập cao. VN không thiếu người giỏi, thừa sức dịch tốt cả Nabokov, Proust, Kant, Hegel hay James Joyce, nhưng vấn đề là hầu như chẳng ai giỏi mà lại đi làm khổ sai 2 năm để lấy 1000 đô la cả. Đó là vấn đề của làng dịch VN hiện nay!

Không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận lời chê. Các dịch giả nên có tâm thế như thế nào thì hợp lẽ khi tiếp nhận các luồng ý kiến khác nhau từ độc giả của mình và từ chính các đồng nghiệp.

Tôi nghĩ dịch cũng là một nghề như bao nghề khác, có nhục có vinh, tất nhiên cũng có những tác phẩm rất khó dịch, có những tác giả cực kỳ khó dịch, và cần sự tôn trọng nhất định với dịch giả nào dịch thành công những kiệt tác ấy, những văn hào vĩ đại ấy, nhưng tuyệt đại đa số bản dịch khác chỉ là các sản phẩm hết sức bình thường thôi. Tôi nghĩ các dịch giả nên có tâm thế chấp nhận phê bình, dẫu sao chăng nữa, nếu ai phê bình được cuốn sách nào đó thì chí ít họ cũng đã đọc nó ít nhiều, vậy là quý lắm rồi. Chứ còn vô số người viết ngoài kia chỉ mong được đọc, và thậm chí phải bỏ cả tiền ra tự in sách đem tặng, mà không ai thèm đọc thì sao?

Dịch giả VN hay phản ứng thái quá với sự phê bình, chẳng qua do họ hơi ảo tưởng về mình. Nhưng, vài tỷ người mới có một Nabokov, một Tolstoi, hay một James Joyce, chứ đọc và dịch sách họ thì thiếu gì người làm được? Đương nhiên dịch được và dịch đạt, dịch hay, dịch nhã là những khái niệm khác nhau một trời một vực, nhưng đó lại là câu chuyện khác! Và tôi nghĩ trong tình hình văn hóa bè cánh làng xã hiện nay thì ở VN chúng ta chỉ có “dịch quen” và “dịch lạ” mà thôi.

Cơn Giông

By On tháng 1 31, 2016
Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch

Tác phẩm đã đăng trong Tạp Chí Sông Hương số Tết Bính Thân



Nơi góc phố, dưới vòm hoa đoan, một mùi hương ngào ngạt quấn lấy tôi. Những tảng sương mù đồ sộ dâng lên trên trời đêm, và khi khoảnh sao cuối cùng bị nuốt chửng, thì ngọn gió mù loà, che mặt bằng tay áo, lùa thấp theo phố vắng. Trong bóng tối nhập nhoạng, trên cánh cửa sắt của tiệm cắt tóc, một chiếc khiên treo – chiếc thau vàng – chao như quả lắc.

Về đến nhà, tôi bắt gặp ngọn gió đã đợi trong phòng: nó sập mạnh khung cửa sổ – và vội vã thốc ngược lại khi tôi khép cánh cửa sau lưng mình. Dưới cửa sổ phòng tôi có cái sân trong sâu hun hút, nơi đó, ban ngày, những chiếc sơ mi, bị đóng đinh trên các dây phơi rực nắng, toả sáng xuyên qua các bụi tử đinh hương, và từ dưới ấy thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng sủa sầu muộn – giọng mấy người thu mua đồng nát ve chai; –  ứ-ứ, cây vỹ cầm tàn tật nức nở; và, có lần, một phụ nữ tóc vàng béo ú tới, đứng ngay giữa sân, hát hay đến nỗi các cô hầu, cúi cần cổ trần, nhoài cả người ra ngoài mọi cửa sổ, sau đó, khi chị ta ngưng hát, mọi thứ trở nên yên lặng khác thường; chỉ nghe tiếng bà chủ nhà tôi, một mụ goá lôi thôi, đang thổn thức hỉ mũi trong hành lang.

Giờ thì dưới ấy, màn sương u ám ngột ngạt đang trương lên, –  nhưng kìa, ngọn gió mù loà, vừa bơ vơ luồn xuống đáy sâu, lại bắt đầu rướn lên trời, – và đột nhiên – nó sáng mắt ra, lao vút lên và, trong những hố sâu màu hổ phách bên bức tường đen ngòm đối diện, những bóng tay và bóng tóc tất tả tới lui, bắt lại các khung cửa bay, sầm sập đóng chặt cửa sổ. Các cửa sổ vụt tắt. Và lập tức, trong màn đêm tím thẫm, một tràng âm thanh trầm đục, tiếng sấm xa, bắt đầu vỡ ra, lan rộng. Rồi mọi thứ lại lặng đi, như lúc chị hành khất ngừng hát, siết chặt tay lên bộ ngực đầy.

Tôi thiếp đi trong sự yên ả ấy, lử lả vì vui, một niềm vui mà tôi chẳng thể viết thành lời, – và giấc mơ tôi chan chứa bóng hình em.

Tôi bừng tỉnh vì đêm vỡ vụn. Ánh lấp lánh nhợt nhạt, cuồng dại bay ngang bầu trời, tựa chớp hồi quang của chiếc nan hoa vĩ đại. Hết tiếng sét này đến tiếng sét khác xé toạc bầu trời. Mưa rơi rào rạt nơi nơi.

Tôi say những rung động xanh nhờ ấy, cái lạnh nhẹ buốt ấy. Tôi bước lên bậu cửa sổ ướt đẫm, hít không khí siêu phàm, nó làm tim tôi ngân lên, như kính.

Càng lúc càng gần hơn, càng lúc càng kỳ vĩ hơn, cỗ mã xa của nhà tiên tri rền vang theo những áng mây. Ánh sáng của sự điên rồ, của những ảo cảnh nhức mắt, rọi tỏ cõi đêm, những mái dốc kim loại, những bụi tử đinh hương cuống cuồng chạy trốn. Thần sấm, một ông khổng lồ tóc bạc, với bộ râu bão táp bị gió vắt ngược qua vai, mặc bộ lễ phục phấp phới chói ngời, đứng, ngả người về phía sau, trong cỗ mã xa ngùn ngụt cháy của mình, gồng tay ghìm lũ chiến mã khổng lồ, lông đen huyền, bờm rực lửa tím. Chúng lao vùn vụt, chúng phì bọt lóng lánh đì đùng, cỗ mã xa nghiêng ngả, và nhà tiên tri bối rối ghì dây cương mà chẳng ăn thua. Gương mặt ông bị méo đi bởi gió và sự căng thẳng; cơn lốc, thổi tung các nếp lễ phục, lột trần đầu gối vạm vỡ, lũ chiến mã, tung bờm rực lửa, bay mỗi lúc mỗi hăng – thấp dần, thấp dần theo những áng mây. Và đây, với những tiếng sấm ầm ì, chúng tung vó qua một nóc nhà sáng bóng, cỗ mã xa liệng đi, Elijah loạng choạng, và lũ chiến mã, điên lên bởi đụng phải chất kim loại phàm trần, nhào ngược lên trời. Nhà tiên tri bị quăng ra ngoài. Một bánh xe văng đi. Từ cửa sổ nhà mình, tôi thấy cái vành khổng lồ rực lửa của nó lăn theo mái nhà, chệnh choạng tại bờ mái, và nhảy vào bóng tối lờ mờ. Còn lũ chiến mã, kéo lê theo chúng cỗ mã xa bị lật nhào, nảy tưng tưng, đã bay nhanh theo những áng mây cao ngất; tiếng rầm rầm tắt dần, và ngọn lửa giông lụi tàn trong những vực thẳm tím than.

Thần sấm, vừa rơi lên mái, nặng nề đứng dậy, đôi xăng đan của ông trượt đi; ông đạp chân vỡ cửa tò vò mái nhà, càu nhàu, khoát tay túm lấy ống khói. Chầm chậm quay gương mặt tối sầm lại, ông đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó – hẳn là chiếc bánh xe vừa bung khỏi cái trục vàng. Sau đó ông ngước lên, các ngón tay túm chặt bộ râu rối, cáu kỉnh lắc đầu – chắc đây không phải lần đầu chuyện ấy xảy ra – và, hơi tập tễnh, bắt đầu thận trọng leo xuống dưới.

Rời cửa sổ, hấp tấp và hồi hộp, tôi khoác áo choàng và chạy xuống chiếc thang dốc dẫn thẳng đến sân trong. Cơn giông đã qua, nhưng trời còn lất phất mưa. Phương đông ửng màu xanh tái tuyệt đẹp.

Cái sân trong, nhìn từ trên cao thì như thể chìm trong bóng tối đặc quánh, thực ra ngập màn sương mỏng đang tan. Giữa sân, trên bãi cỏ thẫm màu vì ẩm ướt, một ông già gày guộc, lưng còng vai xo, mặc chiếc áo thụng đẫm nước mưa, đứng lẩm bẩm nói gì đó và nhìn quanh. Trông thấy tôi, ông giận dữ nháy mắt:

–  Là ngươi hả, Elisha?

Tôi cúi đầu. Nhà tiên tri chặc lưỡi, xoa xoa lòng bàn tay lên chỗ hói nâu nâu.

– Rớt đâu cái bánh. Tìm cho ta đi.

Mưa đã tạnh. Trên nóc nhà, những đám mây đồ sộ bừng bừng cháy. Xung quanh, trong không trung xanh mờ ngái ngủ, các bụi cây, hàng rào, cái cũi chó lấp lánh lững lờ trôi. Chúng tôi mò mẫm tìm rất lâu khắp các xó xỉnh.  Ông già luôn miệng càu nhàu, nâng gấu áo nặng trĩu, lội đôi xăng đan mòn vẹt lõm bõm qua các vũng nước mưa, và trên đầu cái mũi to, xương xẩu của ông treo một giọt nước lấp lánh. Gạt nhánh tử đinh hương thấp lè tè, tôi chợt để ý thấy, trên đống rác, giữa kính vỡ, một bánh sắt mỏng, chắc là từ cái xe nôi trẻ con nào đó, ông già thở phào nồng ấm ngay trên tai tôi và hấp tấp, thậm chí hơi thô bạo đẩy tôi qua bên, chộp cái vành han gỉ ấy nhấc lên. Ông nháy mắt vui vẻ bảo tôi:

–  Thì ra là lăn vào đây…

Rồi ông chằm chằm nhìn tôi, nhíu cặp mày bạc, – và như thể chợt nhớ ra điều gì đó, oai nghiêm nói:

–  Quay mặt đi nào, Elisha.

Tôi vâng lời. Thậm chí còn nheo mắt lại. Đứng như vậy được chừng một phút, – và không giữ được lâu hơn.

Sân vắng tanh. Chỉ có con chó già lông xù với cái mõm bạc màu thò đầu ra khỏi cũi và, giống như người, ngước đôi mắt nâu sẫm đầy vẻ sợ hãi nhìn lên. Tôi ngẩng đầu. Elijah đã leo lên mái nhà, chiếc vành sắt sáng lờ mờ sau lưng ông. Trên những ống khói đen, một ráng mây sừng sững hiện lên như rặng núi loăn xoăn vàng cam, và sau nó là ráng thứ hai, thứ ba. Tôi và con chó im bặt ấy đăm đắm dõi theo nhà tiên tri, vừa leo đến đỉnh nóc nhà, bình tĩnh và thong thả đặt chân lên mây và tiếp tục trèo lên trên, nặng nề bước theo ngọn lửa dịu êm.

Nắng rọi vào bánh xe của ông, nó lập tức biến thành chiếc vòng vàng khổng lồ, – và chính Elijah dường như lúc này cũng mặc bộ lễ phục lửa, hoà mình với những ráng mây thiên đường ấy, bước mỗi lúc mỗi cao hơn, cao hơn nữa, cho đến khi biến vào lũng trời rực cháy.

Chỉ đến lúc đó thì con chó già mới cất tiếng sủa khàn khàn ban mai, – và những gợn sóng lăn tăn trên bề mặt sáng chói của vũng nước mưa; làn gió hiu hiu lay động các cây phong lữ đỏ thắm trên ban công, đôi ba cửa sổ tỉnh giấc nồng, – và tôi chạy ra ngoài phố, chân đi đôi dép ngủ kẻ ô ướt sũng, người mặc chiếc áo choàng phai màu, bắt kịp chiếc tàu điện ngái ngủ đầu tiên, vừa chạy vừa khép vạt áo, và vừa cười hoài, vừa hình dung, chỉ lát nữa thôi là sẽ tới nhà em và kể em nghe về vụ tai nạn trời đêm ấy, về nhà tiên tri già cáu kỉnh ấy, vừa rơi xuống khoảng sân nhỏ của tôi.


Một Góc Nhìn về Kinh Tế VN trong thế kỷ 20

By On tháng 11 24, 2015

Người Việt vốn âm tính, duy tình hơn duy lý, kiểu tư duy đó không hẳn đã hoàn toàn dở, tuy nhiên, trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, thì ai muốn sống còn và thành đạt, thì nên học cách tư duy biện chứng, dựa trên số liệu và các phương pháp phân tích khoa học. 

Có nhiều "ảo giác" vẫn luẩn quẩn trong tiềm thức người Việt, chẳng hạn như huyền thoại về một Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, hay một miền Nam mà Lý Quang Diệu phải ao ước. Tuy nhiên, sự thực khác hẳn những gì người ta vẫn nghĩ. Singapore chưa bao giờ thua kém Sài Gòn, nếu như không muốn nói là luôn có GDP đầu người tối thiểu là gấp vài lần. Và, suốt những năm chiến tranh, GDP đầu người của miền Bắc VN thật ra cũng không thua miền Nam VN là bao, mặc cho các hỗ trợ kinh tế khổng lồ từ Mỹ cho miền Nam VN. 

Trên đây là đồ thị dữ liệu về GDP trên đầu người của một số quốc gia châu Á từ năm 1913 cho đến năm 1970. Điều thú vị trong báo cáo này là nó bao gồm cả GDP của miền Nam và miền Bắc VN. Có thể thấy điểm nổi bật là sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, và một sự thật đáng buồn là cả Bắc và Nam Việt Nam lúc nào cũng nghèo đói như nhau và ở mức thấp nhất trong các nước châu Á được nói đến trong báo cáo. Suốt một thời gian dài từ 1940 đến 1970, kinh tế cả hai miền không phát triển trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc cùng các quốc gia khác đều tăng trưởng tốc độ cao. Chiến tranh đã làm cho đất nước tụt hậu ít nhất là 50 năm, tuy nhiên, không thể phủ nhận sự thật là từ đầu thế kỷ 19, Việt Nam đã là quốc gia rất, rất nghèo.

Sau 75, đất nước còn rơi vào khủng hoảng trầm trọng do cấm vận, do mất hết viện trợ từ Mỹ, Nga, Trung Quốc, do các sai lầm trong điều hành kinh tế, và chỉ mới thật sự phát triển, và phát triển rất tốt, từ 5h sáng ngày 4/2/1994, sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Nhưng đó là một câu chuyện khác! 

Nguồn: 

Economic Divergence in East Asia:
New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970
Jean-Pascal Bassino* and Pierre van der Eng**

Dịch Giả

By On tháng 9 16, 2015
Bản dịch Lolita này thuộc sở hữu của dịch giả Thiên Lương.
Mọi trích dẫn từ bản dịch phải được ghi cùng tên dịch giả.



Các tác phẩm Nabokov đã được Thiên Lương dịch và xuất bản:

2014. Lolita (ANDI).
2014. Dấu hiệu và Biểu hiệu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
2014. Cảnh đời một quái vật kép (Sông Hương).
2015. Chị em nhà Vane (Văn Nghệ Quân Đội).
2015. Mối Tình Đầu (Nhà Văn & Tác Phẩm).
2016. Cơn Giông (Sông Hương).
2016. Mỹ Nhân Nga - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 1. (Zenbook và nxb Văn Học).
2017. Mây, hồ, tháp - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 2. (Zenbook và nxb Văn Học).

Câu chuyện về người thừa kế di sản James Joyce

By On tháng 8 24, 2015
Biên soạn từ nhiều nguồn.

Vào đêm tất niên 2012, Twitter feed của trang web Ubu, nơi lưu dữ liệu của các nghệ sĩ tiên phong, đã đăng đường dẫn đến một bài báo trên tờ The Irish Times về việc hết hạn bản quyền ở châu Âu với các tác phẩm của James Joyce, nhà văn vĩ đại người gốc Ireland, tác giả kiệt tác Ulysses.

James Joyce

Đường dẫn đi cùng một thông điệp cộc lốc gửi tới cháu nội và cũng là người thừa kế duy nhất còn sống của Joyce: “Mẹ mày, Stephen Joyce bản quyền các tác phẩm của James Joyce tại EU chấm dứt giữa đêm nay”. Trong khi ngôn từ có thể cộc lốc một cách bất thường thì cảm xúc mà nó biểu lộ lại rất phổ biến.

Hành trình thành công sản của các tác phẩm chính của Joyce đã được tuyên truyền gần như khắp nơi, như thể nó là phiên bản sách về sự hủy diệt của một vì sao chết trong bộ phim Star Wars, với Stephen Joyce vào vai một tay Darth Vader trí thức nào đó bỗng nhiên không còn ở vị trí thở hồng hộc vào gáy những kẻ phiến loạn mê Joyce nữa.

Cuộc chiến bản quyền

Stephen Joyce, cháu nội của James Joyce (1882-1941), từ giữa những năm 1990 đã nắm quyền lực tối cao với một trong những di sản văn chương hiếu chiến và bế tắc nhất nhân loại (có lẽ chỉ có thể so bì với Paul, con trai của Louis Zukofsky, cho danh hiệu người thực hiện di chúc cứng rắn nhất thế giới văn chương).

Các học giả bị yêu cầu phải thanh toán các khoản phí bản quyền cắt cổ, và thường xuyên bị từ chối thẳng thừng quyền trích dẫn bất cứ thứ gì từ các tác phẩm của Joyce. Những toan tính sáng tạo các phóng tác theo Ulysses, Finnegans Wake, Dubliners, hay A portrait of the artist as a young man, hoặc những buổi đọc công cộng các cuốn sách này được điều đình với thái độ ngờ vực và thù địch.

Trong một bài báo năm 2006 trên tờ The NewYorker, D. T. Max đã xem xét mối quan hệ quá đỗi khó chịu giữa Stephen và những người hâm mộ Joyce. Max viết về việc Stephen, tại một hội nghị chuyên đề năm 1988 ở Venice nhân “ngày hội Bloom”, đã tuyên bố rằng ông ta đã “hủy mọi lá thư mà bà dì Lucia của ông ta [và cũng là cô con gái gây phiền muộn của James Joyce] viết cho ông và vợ ông” và rằng ông ta đã “làm điều tương tự với các bưu thiếp và điện tín gửi đến Lucia từ Samuel Beckett, người đã dan díu với bà hồi những năm 1920”.

Ulysses

Những người hâm mộ James Joyce tổ chức lễ hội mang tên Bloom, nhân vật chính trong Ulysses, vào ngày 16-6 hằng năm. Năm 2004, kế hoạch tổ chức đợt đọc sách nơi công cộng với các trích đoạn từ Ulysses để kỷ niệm 100 năm ngày hội Bloom ở Dublin đã bị hủy bỏ, sau khi Stephen hăm dọa chính quyền Ireland rằng họ vi phạm bản quyền di sản. Thèm muốn phá rối của Stephen thật lố bịch và dường như không bao giờ có thể được thỏa mãn.

Nhằm mục đích vinh danh đại văn hào, Thư viện Quốc gia Ireland mở một khu mới để trưng bày nhiều tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp James Joyce, bao gồm các chứng liệu, bản thảo, thư từ trao đổi giữa Joyce với người thân, bạn bè, nhà xuất bản, độc giả, vợ - kể cả những lá thư hoàn toàn riêng tư chứa đầy từ ngữ tục tĩu viết riêng cho vợ - và đặc biệt là, lần đầu tiên, bản thảo gốc của Ulysses được trưng bày.

Stephen đã cảnh cáo Thư viện Quốc gia Ireland rằng kế hoạch trưng bày bản thảo của ông nội là vi phạm bản quyền. (Thượng viện Ireland phải thông qua một điều luật bổ sung khẩn cấp để ngăn cản ông ta).

Sự phản kháng của Stephen đã làm cho Abbey Theatre phải hủy một buổi diễn vở Exiles của Joyce, và ông ta tuyên bố với Adam Harvey, một nghệ sĩ trình diễn đã thuộc lòng một phần Finnegans Wake với mong muốn thuật lại được chúng trên sân khấu, rằng anh ta “đã vi phạm” bản quyền di sản. Harvey sau này đã phát hiện ra rằng, theo luật Anh, Joyce chẳng có quyền dừng buổi biểu diễn của anh.

Cơ hội mới cho James Joyce

Người ta cho rằng các học giả chuyên nghiên cứu về Joyce sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn công chúng bởi những phô trương quyền lực thô bạo với di sản. Sam Slote, hiện đang dạy văn học Anh ở Trinity College Dublin, và cũng là một nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực nghiên cứu về Joyce, chỉ ra rằng vẫn chưa rõ tình trạng của các ấn bản ra đời sau khi tác giả chết - chẳng hạn các bức thư và bản thảo, cũng như Stephen hero (một tiểu thuyết tự truyện dang dở mà Joyce sửa tận gốc như A Portrait) và Giacomo Joyce sẽ như thế nào.

Sean Latham, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Tulsa, chủ bút “James Joyce tam cá nguyệt san”, cũng đồng quan điểm rằng đây là một cột mốc quan trọng, nhưng không báo hiệu “một thời kỳ phục hưng sôi nổi trong việc nghiên cứu Joyce. Chúng ta đã phục hưng việc này hàng thập kỷ rồi.

Sự thật là các tác phẩm chưa công bố - đáng kể nhất trong đó là các lá thư của Joyce - giờ đã hết bản quyền ở Mỹ, và dẫu sao thì cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tiểu sử ông ấy. Tôi đã biết rằng đang có vài dự án lên kế hoạch in ấn những lá thư này. Hiện nay chúng tôi đã có ba tập thư từ. Một dự án đã hoàn tất. Nhiều dự án đang triển khai.

Có những lá thư mà Stephen cương quyết từ chối công bố nên việc in ấn chúng sẽ thật sự quan trọng. Chúng ta sẽ có đủ loại chuyện mà cuối cùng chúng ta sẽ được phép kể về Joyce và cuộc đời ông ấy, những chuyện trước giờ chúng ta chưa thể kể”.

Ngay sau khi hết thời hạn bản quyền, các tác phẩm của James Joyce nhanh chóng xuất hiện với các ấn bản mới, các tuyển tập mới và các bản dịch mới. Sean nhắc đến các bản in mới của Finnegans Wake, Ulysses, A Portrait và Dubliners. Bản Ulysses tiếng ý sắp được in và Sam Slote đang chuẩn bị cho một phiên bản chú giải cặn kẽ về cuốn tiểu thuyết này.

Chắc chắn cũng có khá nhiều nhà xuất bản yếu kém và cơ hội sẽ lợi dụng tình trạng công hữu của các tác phẩm. Sam cho xem một bộ sưu tập đặc biệt gớm guốc - một hộp bọc giả da màu lục có nắp đậy, chứa vài tập sách nhỏ của Joyce cũng bọc da giả. Ulysses được in thành ba tập, và để cho các tập có kích thước bằng nhau, nhà sách đã chuyển chương dài nhất, Circe, vào một nơi khác hẳn trong cuốn sách.

Trong hộp còn chứa một thứ gì đó được gọi là “Tinh tuyển truyện ngắn”, mà hóa ra chính là Dubliners với các truyện ngắn được sắp xếp lại, một cách ngu ngốc, theo thứ tự bảng chữ cái. Chẳng có gì ngạc nhiên là Stephen Joyce đã trấn áp những thứ này một cách hung ác. “Tôi biết ít nhất là một người - Sam nói - đã mua hai cuốn này, một cuốn được ông ta giữ nguyên đai nguyên kiện do cho rằng chúng sẽ lên giá. Nhưng ta sẽ còn được thấy cả đống sách tương tự thế này”.

Sean Latham đồng ý rằng các ấn bản sách của Joyce sẽ không còn được quản lý chất lượng tốt như trước nữa, nhưng không cho rằng đó là một diễn biến tệ hại, và vạch ra rằng chẳng ai còn quan tâm mấy đến việc có rất nhiều ấn bản sách của Dicken và Shakespeare nữa.

Ngay Ulysses, kiệt tác quan trọng nhất của James Joyce, cuốn sách đứng đầu hàng loạt bảng xếp hạng các tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại, cũng có một lịch sử xuất bản lạ lùng. Ấn bản đầu tiên của nó xuất hiện vào năm 1922 tại Paris hiển nhiên là có cực nhiều sai sót, đó là điều không cần phải bàn cãi. Trước đấy, khi còn được đăng từng kỳ trên The Little Review, nhiều phiên bản của tác phẩm đã phải qua nhiều tay và tùy vào sở thích, ý đồ riêng của biên tập viên mà tác phẩm bị cắt xén, bị giản lược, hoặc sửa.

Trong thời gian này, Joyce tiếp tục biên tập, thêm thắt nhiều chi tiết khác vào tác phẩm. Do đó, giữa các văn bản có sự khác biệt đáng kể. Chính Joyce lúc còn sống cũng không khẳng định phiên bản nào đúng. Hậu quả là không có ấn bản nào được xem là thật sự hoàn hảo, khiến cho tác phẩm mãi là đề tài tranh cãi bất tận giữa các học giả.

Mặc dù vô cùng khó đọc, dài khoảng 265.000 từ và sử dụng từ vựng tới 30.300 từ, Ulysses vẫn được đánh giá rất cao. Năm 1998, một hội đồng tuyển chọn gồm 10 người - đa số là người Mỹ - của New York Modern Library, một nhà xuất bản thuộc Random House, đã cùng nhau chọn danh sách 100 tác phẩm viết bằng tiếng Anh có giá trị nhất của thế kỷ 20.

Joyce có hai tác phẩm được chọn: Ulysses đứng đầu bảng và A portrait of the artist as a young man hạng ba. The great Gatsby của Scott Fitzgerald hạng nhì và Lolita của Vladimir Nabokov đứng thứ tư. Quả thật, thứ tự xếp hạng các kiệt tác này có thay đổi trong những lần bình chọn khác nhau của các nhóm độc giả khác nhau, nhưng các tác phẩm của James Joyce luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

Chính sự phức tạp liên quan đến bản thân nội dung Ulysses cũng như các phiên bản của nó phần nào làm cho việc Stephen hết sức cứng rắn khi điều đình về bản quyền di sản, càng khiến giới học thuật và những người hâm mộ James Joyce bất mãn với người thừa kế này.

Dẫu sao chăng nữa, việc chấm dứt thời hạn bảo vệ bản quyền các tác phẩm của James Joyce đã giúp cho cả các tác phẩm phái sinh rộng đường đến với công chúng, sẽ có nhiều người biết đến các kiệt tác của ông hơn, và đó cũng là sự tôn vinh cao quý nhất với một trong những nhà văn bậc thầy của nhân loại.  

Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Thông tin sai lệch – Mảnh đất màu cho thuyết âm mưu

By On tháng 8 09, 2015


Vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước vừa qua đã gây nên sự căm phẫn và nỗi kinh hãi đến tột cùng trong dư luận, và việc phá án mau lẹ của các cơ quan công quyền phần nào làm yên lòng dân và đem lại niềm tin vào công lý và lẽ phải ở đời. Tuy nhiên, vẫn có không ít lời xì xầm, nhất là trên facebook, về điểm này điểm nọ liên quan đến vụ án. 

Thực ra thì bản chất sự hoài nghi ấy không có gì mới. Trên thế giới, nhất là ở Mỹ, luôn có những người theo thuyết âm mưu (tiếng Anh: conspiracy theory). Những người này luôn tìm cách lý giải các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội theo hướng gán cho chúng những âm mưu bí mật của các thế lực ngầm khủng khiếp nào đó đằng sau.

Giả thuyết của họ luôn đi ngược lại các giải thích chính thống, và nó luôn nhằm đến việc buộc tội một nhóm người hay một tổ chức, hay một yếu tố siêu nhiên nào đó gây nên hay đứng đằng sau một sự kiện hoặc một hiện tượng gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chính trị xã hội. Các hiện tượng đó có thể đơn giản là một vụ giết người thảm khốc, một vụ khủng bố dã man, một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, thậm chí là những “bí mật” hết sức hoang đường nào đó, chẳng hạn như người ngoài hành tinh đang làm việc cho các cơ quan chính phủ Mỹ.

Thuyết âm mưu khá được ưa thích, ngoài lý do người dân luôn hoài nghi vào những thứ họ không hiểu rõ, còn vì sự hấp dẫn ly kỳ của nó. Một trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng có liên quan đến thuyết âm mưu là Fahrenheit 9/11 – bộ phim giành giải cành cọ vàng ở Cannes của đạo diễn Michael Moore. Bằng cách khéo léo sử dụng các tin tức chọn lọc, bộ phim này đã đưa ra những giả thuyết của riêng mình về Tổng thống Bush cùng những kẻ thực sự đứng sau vụ khủng bố 11.9. Đương nhiên là giả thuyết này khác xa với những gì chính quyền Mỹ vẫn công bố.

Ngoài ra, bất chấp các bằng chứng khoa học hiển nhiên, người ta vẫn không thôi nghi ngờ vào những sự kiện như cuộc đổ bộ đầu tiên lên Mặt Trăng của người Mỹ, vụ ám sát tổng thống Kennedy, và đủ thứ ầm ĩ khác.

Người ta vẫn chưa thể lý giải nguyên nhân tại sao có nhiều người thực tâm tin vào các thuyết âm mưu, và phủ nhận tất cả các bằng chứng khoa học và pháp lý khác. Một số học giả cho rằng do con người sẵn có niềm tin từ thời thượng cổ vào sự tồn tại của các thế lực hắc ám trong tự nhiên, những học giả khác lại cho rằng nhiều người muốn tìm cách giải thích các sự kiện, hiện tượng quan trọng bằng những nguyên nhân quan trọng, chẳng hạn họ không bao giờ chịu tin rằng một thứ gì đó khổng lồ và khó hiểu như đám mây lại đơn giản chỉ do nước bốc hơi lên trời mà thôi. Nói chung, họ cần một lý do nào đó đủ kinh khủng để lý giải cho một sự kiện họ cho là hết sức kinh khủng.

Sự thiếu vắng lòng tin cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa đến các thuyết âm mưu. Người dân nghèo, ít học, bị loại ra khỏi cuộc chơi, ở các tầng lớp thấp trong xã hội rất dễ là nạn nhân của các thuyết âm mưu, và họ chính là những kẻ tin một cách thành thực nhất vào các giả thuyết hoang đường nhất. Những người có học thức cao, thu nhập cao, ở giới trung lưu và cao hơn thường ít khi tin vào các thuyết âm mưu, do họ được thông tin tốt hơn và đa chiều hơn, họ hòa nhập cùng hệ thống chính trị và kinh tế, họ có thái độ tích cực hơn với xã hội, và họ có xu hướng tin vào các thông tin chính thống mà họ nhận được. Điều đó cũng dễ hiểu, vì càng ở trên cao thì người ta càng có tầm nhìn bao quát hơn.

Một trong những ví dụ đơn giản là bàn làm việc tiếp dân của các cơ quan. Những nơi để cửa kính thấp, cho khách thấy rõ hồ sơ được xử lý thế nào trên bàn, thường mang lại cảm giác yên tâm hơn cho người dân.

Quay trở lại vụ thảm sát Bình Phước, có thể thấy rằng sự kiện khủng khiếp này được gieo lên mảnh đất đầy những hoài nghi ngay từ đầu. Do chạy đua theo thông tin, nhằm câu độc giả, một số tờ báo đã đưa tin vội vã, và do đó có rất nhiều tin trái ngược lẫn nhau, không từ những nguồn tin cậy, thậm chí là bịa đặt, làm cho độc giả vô cùng hoang mang, không biết đâu là thật, là giả. Có thể nói rằng chính những thông tin sai lệch và không được đính chính này đã gợi lên các giả thuyết âm mưu trong một bộ phận dư luận.

Thực tế thì không thể tiêu diệt thuyết âm mưu, nó là một phần của văn hóa. Dù xã hội có văn minh đến đâu thì bất cứ sự kiện lớn nào vẫn sẽ là mảnh đất cho các cây âm mưu lớn mọc lên. Tuy nhiên, để cho các giả thuyết hoang đường ấy chỉ khu trú trong một bộ phận dân cư nhất định, và không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động người dân thì cần khá nhiều việc để làm, từ nâng cao văn hóa và trách nhiệm của phóng viên, cho đến sự minh bạch của các cơ quan quản lý nhà nước. Người dân sẽ tin tưởng hơn vào thông tin chính thống khi họ nghĩ rằng họ được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra.

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/thong-tin-sai-lech-manh-dat-mau-cho-thuyet-am-muu-585372.html

Popular