Enter your keyword

Put your ad code here

Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Câu chuyện về người thừa kế di sản James Joyce

By On tháng 8 24, 2015
Biên soạn từ nhiều nguồn.

Vào đêm tất niên 2012, Twitter feed của trang web Ubu, nơi lưu dữ liệu của các nghệ sĩ tiên phong, đã đăng đường dẫn đến một bài báo trên tờ The Irish Times về việc hết hạn bản quyền ở châu Âu với các tác phẩm của James Joyce, nhà văn vĩ đại người gốc Ireland, tác giả kiệt tác Ulysses.

James Joyce

Đường dẫn đi cùng một thông điệp cộc lốc gửi tới cháu nội và cũng là người thừa kế duy nhất còn sống của Joyce: “Mẹ mày, Stephen Joyce bản quyền các tác phẩm của James Joyce tại EU chấm dứt giữa đêm nay”. Trong khi ngôn từ có thể cộc lốc một cách bất thường thì cảm xúc mà nó biểu lộ lại rất phổ biến.

Hành trình thành công sản của các tác phẩm chính của Joyce đã được tuyên truyền gần như khắp nơi, như thể nó là phiên bản sách về sự hủy diệt của một vì sao chết trong bộ phim Star Wars, với Stephen Joyce vào vai một tay Darth Vader trí thức nào đó bỗng nhiên không còn ở vị trí thở hồng hộc vào gáy những kẻ phiến loạn mê Joyce nữa.

Cuộc chiến bản quyền

Stephen Joyce, cháu nội của James Joyce (1882-1941), từ giữa những năm 1990 đã nắm quyền lực tối cao với một trong những di sản văn chương hiếu chiến và bế tắc nhất nhân loại (có lẽ chỉ có thể so bì với Paul, con trai của Louis Zukofsky, cho danh hiệu người thực hiện di chúc cứng rắn nhất thế giới văn chương).

Các học giả bị yêu cầu phải thanh toán các khoản phí bản quyền cắt cổ, và thường xuyên bị từ chối thẳng thừng quyền trích dẫn bất cứ thứ gì từ các tác phẩm của Joyce. Những toan tính sáng tạo các phóng tác theo Ulysses, Finnegans Wake, Dubliners, hay A portrait of the artist as a young man, hoặc những buổi đọc công cộng các cuốn sách này được điều đình với thái độ ngờ vực và thù địch.

Trong một bài báo năm 2006 trên tờ The NewYorker, D. T. Max đã xem xét mối quan hệ quá đỗi khó chịu giữa Stephen và những người hâm mộ Joyce. Max viết về việc Stephen, tại một hội nghị chuyên đề năm 1988 ở Venice nhân “ngày hội Bloom”, đã tuyên bố rằng ông ta đã “hủy mọi lá thư mà bà dì Lucia của ông ta [và cũng là cô con gái gây phiền muộn của James Joyce] viết cho ông và vợ ông” và rằng ông ta đã “làm điều tương tự với các bưu thiếp và điện tín gửi đến Lucia từ Samuel Beckett, người đã dan díu với bà hồi những năm 1920”.

Ulysses

Những người hâm mộ James Joyce tổ chức lễ hội mang tên Bloom, nhân vật chính trong Ulysses, vào ngày 16-6 hằng năm. Năm 2004, kế hoạch tổ chức đợt đọc sách nơi công cộng với các trích đoạn từ Ulysses để kỷ niệm 100 năm ngày hội Bloom ở Dublin đã bị hủy bỏ, sau khi Stephen hăm dọa chính quyền Ireland rằng họ vi phạm bản quyền di sản. Thèm muốn phá rối của Stephen thật lố bịch và dường như không bao giờ có thể được thỏa mãn.

Nhằm mục đích vinh danh đại văn hào, Thư viện Quốc gia Ireland mở một khu mới để trưng bày nhiều tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp James Joyce, bao gồm các chứng liệu, bản thảo, thư từ trao đổi giữa Joyce với người thân, bạn bè, nhà xuất bản, độc giả, vợ - kể cả những lá thư hoàn toàn riêng tư chứa đầy từ ngữ tục tĩu viết riêng cho vợ - và đặc biệt là, lần đầu tiên, bản thảo gốc của Ulysses được trưng bày.

Stephen đã cảnh cáo Thư viện Quốc gia Ireland rằng kế hoạch trưng bày bản thảo của ông nội là vi phạm bản quyền. (Thượng viện Ireland phải thông qua một điều luật bổ sung khẩn cấp để ngăn cản ông ta).

Sự phản kháng của Stephen đã làm cho Abbey Theatre phải hủy một buổi diễn vở Exiles của Joyce, và ông ta tuyên bố với Adam Harvey, một nghệ sĩ trình diễn đã thuộc lòng một phần Finnegans Wake với mong muốn thuật lại được chúng trên sân khấu, rằng anh ta “đã vi phạm” bản quyền di sản. Harvey sau này đã phát hiện ra rằng, theo luật Anh, Joyce chẳng có quyền dừng buổi biểu diễn của anh.

Cơ hội mới cho James Joyce

Người ta cho rằng các học giả chuyên nghiên cứu về Joyce sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn công chúng bởi những phô trương quyền lực thô bạo với di sản. Sam Slote, hiện đang dạy văn học Anh ở Trinity College Dublin, và cũng là một nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực nghiên cứu về Joyce, chỉ ra rằng vẫn chưa rõ tình trạng của các ấn bản ra đời sau khi tác giả chết - chẳng hạn các bức thư và bản thảo, cũng như Stephen hero (một tiểu thuyết tự truyện dang dở mà Joyce sửa tận gốc như A Portrait) và Giacomo Joyce sẽ như thế nào.

Sean Latham, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Tulsa, chủ bút “James Joyce tam cá nguyệt san”, cũng đồng quan điểm rằng đây là một cột mốc quan trọng, nhưng không báo hiệu “một thời kỳ phục hưng sôi nổi trong việc nghiên cứu Joyce. Chúng ta đã phục hưng việc này hàng thập kỷ rồi.

Sự thật là các tác phẩm chưa công bố - đáng kể nhất trong đó là các lá thư của Joyce - giờ đã hết bản quyền ở Mỹ, và dẫu sao thì cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tiểu sử ông ấy. Tôi đã biết rằng đang có vài dự án lên kế hoạch in ấn những lá thư này. Hiện nay chúng tôi đã có ba tập thư từ. Một dự án đã hoàn tất. Nhiều dự án đang triển khai.

Có những lá thư mà Stephen cương quyết từ chối công bố nên việc in ấn chúng sẽ thật sự quan trọng. Chúng ta sẽ có đủ loại chuyện mà cuối cùng chúng ta sẽ được phép kể về Joyce và cuộc đời ông ấy, những chuyện trước giờ chúng ta chưa thể kể”.

Ngay sau khi hết thời hạn bản quyền, các tác phẩm của James Joyce nhanh chóng xuất hiện với các ấn bản mới, các tuyển tập mới và các bản dịch mới. Sean nhắc đến các bản in mới của Finnegans Wake, Ulysses, A Portrait và Dubliners. Bản Ulysses tiếng ý sắp được in và Sam Slote đang chuẩn bị cho một phiên bản chú giải cặn kẽ về cuốn tiểu thuyết này.

Chắc chắn cũng có khá nhiều nhà xuất bản yếu kém và cơ hội sẽ lợi dụng tình trạng công hữu của các tác phẩm. Sam cho xem một bộ sưu tập đặc biệt gớm guốc - một hộp bọc giả da màu lục có nắp đậy, chứa vài tập sách nhỏ của Joyce cũng bọc da giả. Ulysses được in thành ba tập, và để cho các tập có kích thước bằng nhau, nhà sách đã chuyển chương dài nhất, Circe, vào một nơi khác hẳn trong cuốn sách.

Trong hộp còn chứa một thứ gì đó được gọi là “Tinh tuyển truyện ngắn”, mà hóa ra chính là Dubliners với các truyện ngắn được sắp xếp lại, một cách ngu ngốc, theo thứ tự bảng chữ cái. Chẳng có gì ngạc nhiên là Stephen Joyce đã trấn áp những thứ này một cách hung ác. “Tôi biết ít nhất là một người - Sam nói - đã mua hai cuốn này, một cuốn được ông ta giữ nguyên đai nguyên kiện do cho rằng chúng sẽ lên giá. Nhưng ta sẽ còn được thấy cả đống sách tương tự thế này”.

Sean Latham đồng ý rằng các ấn bản sách của Joyce sẽ không còn được quản lý chất lượng tốt như trước nữa, nhưng không cho rằng đó là một diễn biến tệ hại, và vạch ra rằng chẳng ai còn quan tâm mấy đến việc có rất nhiều ấn bản sách của Dicken và Shakespeare nữa.

Ngay Ulysses, kiệt tác quan trọng nhất của James Joyce, cuốn sách đứng đầu hàng loạt bảng xếp hạng các tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại, cũng có một lịch sử xuất bản lạ lùng. Ấn bản đầu tiên của nó xuất hiện vào năm 1922 tại Paris hiển nhiên là có cực nhiều sai sót, đó là điều không cần phải bàn cãi. Trước đấy, khi còn được đăng từng kỳ trên The Little Review, nhiều phiên bản của tác phẩm đã phải qua nhiều tay và tùy vào sở thích, ý đồ riêng của biên tập viên mà tác phẩm bị cắt xén, bị giản lược, hoặc sửa.

Trong thời gian này, Joyce tiếp tục biên tập, thêm thắt nhiều chi tiết khác vào tác phẩm. Do đó, giữa các văn bản có sự khác biệt đáng kể. Chính Joyce lúc còn sống cũng không khẳng định phiên bản nào đúng. Hậu quả là không có ấn bản nào được xem là thật sự hoàn hảo, khiến cho tác phẩm mãi là đề tài tranh cãi bất tận giữa các học giả.

Mặc dù vô cùng khó đọc, dài khoảng 265.000 từ và sử dụng từ vựng tới 30.300 từ, Ulysses vẫn được đánh giá rất cao. Năm 1998, một hội đồng tuyển chọn gồm 10 người - đa số là người Mỹ - của New York Modern Library, một nhà xuất bản thuộc Random House, đã cùng nhau chọn danh sách 100 tác phẩm viết bằng tiếng Anh có giá trị nhất của thế kỷ 20.

Joyce có hai tác phẩm được chọn: Ulysses đứng đầu bảng và A portrait of the artist as a young man hạng ba. The great Gatsby của Scott Fitzgerald hạng nhì và Lolita của Vladimir Nabokov đứng thứ tư. Quả thật, thứ tự xếp hạng các kiệt tác này có thay đổi trong những lần bình chọn khác nhau của các nhóm độc giả khác nhau, nhưng các tác phẩm của James Joyce luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

Chính sự phức tạp liên quan đến bản thân nội dung Ulysses cũng như các phiên bản của nó phần nào làm cho việc Stephen hết sức cứng rắn khi điều đình về bản quyền di sản, càng khiến giới học thuật và những người hâm mộ James Joyce bất mãn với người thừa kế này.

Dẫu sao chăng nữa, việc chấm dứt thời hạn bảo vệ bản quyền các tác phẩm của James Joyce đã giúp cho cả các tác phẩm phái sinh rộng đường đến với công chúng, sẽ có nhiều người biết đến các kiệt tác của ông hơn, và đó cũng là sự tôn vinh cao quý nhất với một trong những nhà văn bậc thầy của nhân loại.  

Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Mất chủ quyền quốc gia trên mạng

By On tháng 7 15, 2015
Từ Phong

Hàng chục triệu người Việt Nam đang tự nguyện hiến dâng hầu hết thông tin cá nhân của mình cho các mạng xã hội. Điều này tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, về chủ quyền quốc gia. Đã đến lúc phải thay đổi.



Theo Facebook, hiện nay họ có 30 triệu người dùng tại Việt Nam (trong đó 27 triệu người dùng trên thiết bị di động).

Tính đến tháng 1.2015, lượng người Việt dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kì năm ngoái. Về độ tuổi người dùng, có đến 3/4 người Việt dùng Facebook từ 18 - 34 tuổi. Ngoài ra, người Việt hiện dành khoảng 2 tiếng rưỡi mỗi ngày cho Facebook, gấp đôi thời gian dành để xem ti vi.

Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất

Những con số thống kê này cho thấy ảnh hưởng ngày càng kinh khủng của Facebook nói riêng và các mạng xã hội nói chung lên cuộc sống người Việt hiện nay. Chúng ta đang bỏ những nguồn lực khổng lồ của cả dân tộc vào các hệ thống công nghệ của nước ngoài, và đóng góp đáng kể cho sự thành công của những tập đoàn trị giá hàng trăm tỉ đô la Mỹ.

Không phủ nhận những mặt tích cực của mạng xã hội lên đời sống từng cá nhân và cả xã hội, nhờ có nó mà chúng ta có thể giữ được quan hệ với bạn bè, tìm kiếm các mối quan hệ mới, gặp lại những người cũ, dù chỉ trên không gian ảo. Và cũng nhờ nó mà nhiều vấn đề đã được khơi lên trong cộng đồng để rồi tạo sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chẳng hạn như chất lượng các bản dịch văn học tại Việt Nam. Sau khi cư dân Facebook lên tiếng về các thảm họa dịch thuật, thì giới chuyên môn và các nhà sách đã phải cẩn trọng hơn, phải thu hồi và sửa chữa các bản dịch lỗi.

Tuy nhiên, những mặt trái của mạng xã hội cũng làm chúng ta phải e ngại. Mới đây, một cô gái trẻ đã tự tử do không chịu nổi những lời đàm tiếu trên Facebook sau khi bị người yêu tung đoạn video quay cảnh nhạy cảm giữa hai người lên mạng. Một nhà khoa học đã phải mất nhiều ngày giải thích về bằng tiến sỹ khoa học của mình trước những tấn công vu cáo ông.

Những bài viết tràn ngập trên mạng hằng ngày đả kích các lãnh đạo đất nước, phỉ báng vĩ nhân, thậm chí là kích động hằn thù dân tộc. Rất nhiều thông tin không thể kiểm chứng và từ những nguồn không tin cậy đã làm cho thành viên Facebook hoang mang và nhiều khi dẫn đến các phản ứng tập thể mù quáng, mà những trường hợp điển hình nhất gần đây thuộc về dự án sân bay Long Thành, thay cây xanh và thiết kế đường tàu trên cao tại Hà Nội. Bất chấp các ý kiến chuyên gia và quan điểm của những người có trách nhiệm, vẫn có một phần đám đông trên Facebook không thôi hoài nghi về tính hợp lý cùng những mặt tích cực của các dự án này.

Sự tự do gần như tuyệt đối cùng tính vô danh tương đối của xã hội Facebook đã tạo ra sự bình đẳng giả tạo về mặt thông tin. Người ta không còn phân biệt được sự khác nhau giữa các ý kiến chuyên môn của một giáo sư toán với một cậu sinh viên, giữa một chuyên gia danh tiếng trong ngành hàng không với một kỹ sư nông nghiệp về hưu nào đó.

Chứng nghiện Facebook

Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?

Câu trả lời có thể tìm thấy qua bản chất của chiến lược kinh doanh mà các chuyên gia gọi là tiếp thị Skinner, lấy theo tên nhà khoa học nổi tiếng trong ngành tâm lý học hành vi. Trong thí nghiệm của mình, Burrhus Frederic Skinner đã cho một con chuột vào chiếc lồng có một cái đĩa không, một cần gạt, bóng đèn và loa; mỗi khi loa phát âm thanh hay bóng đèn bật sáng, thì chuột có thể nhận được thức ăn trên đĩa nếu nhấn vào cần gạt. Thực tế cho thấy chuột học được ngay cách gạt cần để nhận thức ăn theo các tín hiệu âm thanh và ánh sáng của chủ.


Hầu hết các mạng xã hội thành công đều xây dựng đế chế của mình dựa theo phát hiện này của Skinner: các icon trên Facebook sẽ đổi màu, nhấp nháy, máy tính sẽ phát tín hiệu âm thanh quen thuộc khi có tin nhắn mới, khi có feed mới, khi có email mới, khi có tin tức mới; và khi người dùng mở trang web lên sẽ nhận được “phần thưởng”, dù cho họ có thích hay không cái gọi là “phần thưởng” ấy. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các cô bé cập nhật ảnh mới liên tục, các cậu bé ngồi lì hàng ngày trên Facebook, các ông già về hưu viết hàng chục status hằng ngày để nhận được like của những người xa lạ. Không khó hình dung sự liên hệ giữa các dụng cụ thí nghiệm với các công cụ trên trang web của Facebook.

Sau một thời gian nhất định gia nhập vào cộng đồng mạng, con người bị rơi vào ảo giác rằng họ sẽ phải thường xuyên mở trang web lên nếu không muốn bỏ lỡ điều gì đó, và thời gian họ dành cho mạng xã hội ngày càng tăng, tới mức họ không còn phân biệt được cuộc sống thật và ảo nữa. Có những người có 5.000 bạn trên Facebook và hàng chục ngàn follower (người theo dõi), nhưng đám tang họ thì lạnh lẽo ở quê với vài ba bạn học từ thời thơ ấu, khi chưa ai biết máy tính cá nhân là gì.
Nói cách khác, ngày nay máy tính đã là chiếc lồng Skinner hiện đại, và mạng xã hội, trên phương diện nào đó, là một nhà máy khổng lồ với hàng tỉ chiếc lồng như thế.

Có phải Facebook được chào đón ở mọi nơi?

Thực ra Facebook không hiền lành vô tội như nụ cười của ông chủ tỷ phú của nó. Không ngẫu nhiên mà một số quốc gia cấm sử dụng mạng xã hội nước ngoài. Việc người dùng dành quá nhiều thời gian cho mạng, lưu trữ quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng, và thậm chí trao đổi các thông tin nhạy cảm trên mạng, có thể làm cho ông chủ của kho dữ liệu khổng lồ ấy có được quyền lực khổng lồ với đời sống hàng tỉ công dân nước khác.

Ngày nay, việc mất quyền kiểm soát với dữ liệu cá nhân của công dân cũng là mất một phần chủ quyền quốc gia. Có thể nói rằng, phần lớn người dân hiện nay sợ mất kết nối với Facebook và Google còn hơn là mất nước, mất điện, kẹt xe hay thiếu thức ăn. Kết nối với internet đã trở thành nhu cầu cơ bản nhất, thấp nhất, và cũng là quan trọng nhất của tháp nhu cầu Maslow.



EU gần đây liên tục lên tiếng yêu cầu các mạng xã hội phải đảm bảo tính riêng tư của người sử dụng, phải cho phép họ xóa vĩnh viễn các dữ liệu cá nhân. Điều nguy hiểm hơn nữa là, thông qua việc sử dụng các cookie, Facebook theo dõi các hoạt động duyệt web của người dùng ngay cả khi họ không có tài khoản Facebook, hay đã hủy tài khoản, đăng xuất ra khỏi trang hoặc tắt chức năng quảng cáo trực tuyến. Điều này vi phạm luật pháp EU. Người dùng bị Facebook theo dõi khi họ sử dụng nút "like" được đặt trên hơn hàng triệu trang web bao gồm cả các trang của chính quyền và ngành y.

Những quan ngại của EU không phải là cá biệt. Các nhà chính trị đã thấy rằng rất nhiều điều luật cần phải sửa đổi để phù hợp với phát triển vũ bão của công nghệ. Và đã có nhiều chuyên gia cảnh báo về viễn cảnh khủng khiếp - khi thế giới bị hủy diệt bởi một hệ thống mạng xã hội biết tự tiến hóa và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người, như trong phim Terminator Genysis. Mặc dù hiện nay chuyện đó chỉ có thể xảy ra trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng thực ra cũng mới chỉ chừng 10 năm trước đây, không ai trong chúng ta có thể hình dung về việc con người sẽ tiêu tốn hầu hết thời gian của mình trên mạng, và lưu trữ hầu hết cuộc đời mình trên mạng như hiện nay. Vậy nên, rất nhiều thứ khó tưởng tượng nổi cũng có thể đến trong vòng 10 năm tới.

Hành động nào của chúng ta?

Có lẽ đã quá muộn để bàn về một mạng xã hội của riêng Việt Nam. Vả lại, trình độ công nghệ cũng chưa bao giờ cho phép chúng ta làm được điều ấy. Việc xử lý khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian thực đòi hỏi những công nghệ phức tạp hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung qua gương mặt hiền lành và đơn sơ của Google hoặc Facebook.

Tuy nhiên, nếu cứ phát triển nhanh như hiện nay, thì rất có thể sẽ đến lúc có cả trăm triệu người Việt dành trung bình mỗi ngày 8 tiếng để vào Facebook. Và viễn cảnh ấy thực sự đáng lo ngại. Để người dân không lãng phí thời gian của mình trên mạng vào việc đào bới thông tin làm giàu cho các ông chủ bên kia bờ đại dương, và không bị kích động định kỳ theo tâm lý đám đông bằng những hình ảnh cực đoan trên mạng, có lẽ cần đến những thay đổi căn bản về luật và cách tiếp cận vấn đề.

Nếu chỉ nghĩ đến việc kiểm soát các tài khoản Facebook cá nhân và nghiêm trị các hành vi phạm pháp trên mạng thì rất khó giải quyết vấn đề. Bởi lẽ kẻ nắm quyền sinh sát với hàng triệu tài khoản Facebook Việt Nam lại không chịu kiểm soát của pháp luật Việt Nam. Và do mạng xã hội không có biên giới, cho nên rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý những tài khoản mạng mặc dù được viết bằng tiếng Việt và chỉ hướng đến khách hàng người Việt, nhưng lại được đăng ký và sử dụng hoàn toàn ở nước ngoài. Về lâu dài thì không thể kiểm soát những thứ mà chúng ta hoàn toàn không có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.

Có lẽ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, và tìm ra mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi với các mạng xã hội. Và nên yêu cầu họ, ngoài việc kiếm lợi cho mình, phải có những hợp tác tích cực về mặt an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, và kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống của họ. Chủ quyền trên không gian mạng không còn là chuyện gì đó xa xôi, huyễn tưởng nữa, mà đã là yêu cầu cấp thiết, trước khi quá trễ. Vì có lẽ chúng ta sẽ chẳng có cơ hội cử ai đó quay lại quá khứ để thay đổi cái ngày mà mạng xã hội được cho phép hoạt động tự do tại Việt Nam.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: 
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html

Popular